Home / PHÂN TÍCH & NHẬN ĐỊNH / PHÂN TÍCH THỊ TRƯỜNG, VĨ MÔ, NGÀNH / Động Lực Tăng Trưởng Kinh Tế Tiếp Theo Của Việt Nam

Động Lực Tăng Trưởng Kinh Tế Tiếp Theo Của Việt Nam

Hãy nhớ về định luật Murphy: "Việc gì có thể sai thì sẽ sai". Câu từ ngắn ngủi này mô tả những thay đổi hiện tại trong nền kinh tế toàn cầu. Việc tăng trưởng GDP Singapore, chỉ báo của hoạt động thương mại, sụt giảm gần đây không chỉ phản ánh hệ quả tất yếu của cuộc chiến thương mại mà còn vẽ ra một bức tranh ảm đạm cho nền kinh tế toàn cầu. Các cuộc khảo sát chỉ ra góc nhìn tương đối bi quan và cẩn trọng của khu vực doanh nghiệp với bối cảnh kinh tế và kế hoạch mở rộng đầu tư sắp tới của họ. Do đó, việc gia tăng tầm quan trọng của “bàn tay hữu hình”, được đề cập bởi nhà kinh tế học John Maynard Keynes, có thể là một điều tốt. Điều này hàm ý sự phối hợp của “bàn tay” tài chính và tiền tệ theo hướng hỗ trợ trong bối cảnh khả năng lãi suất đã dần tới giới hạn.

Sự kết hợp trên không phổ biến trong lịch sử và gợi lại chiến lược “tiền trực thăng” được đề xuất bởi cựu chủ tịch FED Ben Bernanke năm 2002. Nội dung chính:

 “Việc cắt giảm thuế trên diện rộng, chẳng hạn, được hỗ trợ bởi một chương trình mua tài sản trên thị trường nhằm giảm bớt mọi xu hướng tăng lãi suất, gần như sẽ là một động lực đối với tiêu dùng và tăng giá cả. Ngay cả khi các hộ gia đình quyết định không tăng tiêu dùng mà thay vào đó tái cân bằng danh mục bằng cách sử dụng thêm tiền mặt để sở hữu thêm tài sản thực và tài chính. Kết quả của việc tăng giá trị tài sản sẽ làm giảm chi phí vốn và cải thiện tình hình bảng cân đối kế toán riêng của người vay tiềm năng. Tài trợ giảm thuế bằng cách cung tiền tương tự như khái niệm “tiền trực thăng” của Milton Friedman.

Chuyển hướng và củng cố lại vai trò của chính sách tài khóa trong việc dẫn dắt nền kinh tế toàn cầu là cần thiết khi các chi phí vay của Chính phủ đã giảm và lãi suất ít hỗ trợ cho nền kinh tế hơn so với trước đây. Chính phủ nên tập trung vào các dự án đầu tư thay vì các khoản chi tiêu khác. Trong những trường hợp này, chính sách tài khóa và tiền tệ nên thực hiện theo cùng một định hướng để kích thích tăng trưởng. Tuy nhiên, có những mặt lợi ích và hạn chế. Một mặt, việc nới lỏng các chính sách tài khóa về cơ bản cần thời gian ngắn hơn để ảnh hưởng trực tiếp đến nền kinh tế. Kết quả là, trong ngắn hạn, điều đó làm cho một nền kinh tế tăng nóng, đẩy lạm phát vượt quá mục tiêu dự định của nó. Mặt khác, chi tiêu tài khóa không được kiểm soát có thể làm tổn hại đến uy tín của chính phủ và ảnh hưởng đến triển vọng dài hạn. Do đó, tác động lên một quốc gia riêng lẻ sẽ phụ thuộc vào khả năng phản ứng của nó. Sự phối hợp độc đáo cần được thực hiện một cách cẩn thận và có chiến lược cho“lối thoát”.

Trong trường hợp của Việt Nam, Chính phủ trong nhiều năm đã thiết lập một hoạch định tài chính được cân nhắc kỹ lưỡng để đối phó với sự chững lại trong tương lai. Báo cáo cập nhật mới nhất cho thấy tỷ lệ nợ công trên GDP của Việt Nam giảm xuống 58,4%, thấp hơn mức cao nhất 63,7% trong năm 2016. Các nhà hoạch định chính sách sẽ cần thận trọng hơn trong giai đoạn 2019-2022 khi nền kinh tế bị ảnh hưởng bất lợi và hơn 1/3 nợ công sẽ đáo hạn. Tuy nhiên, có những lý do để tin rằng Việt Nam sẽ có thể vượt qua khó khăn. Chính phủ đã hoàn thành hơn 90% kế hoạch thoái vốn ban đầu về mặt giá trị trong khi luật mới về đầu tư công sẽ có hiệu lực vào đầu năm 2020. Có 2 điều chúng ta cần chú ý, bao gồm: 1) 2020 là năm cuối cùng của kế hoạch đầu tư công trung hạn trong giai đoạn 2016-2020; và 2) Việt Nam vẫn chưa có bất kỳ sự thay đổi nào về chính sách lãi suất kể từ khi bắt đầu cuộc chiến thương mại. Lãi suất thực vẫn dương trong khi lãi suất trái phiếu chính phủ đã bắt đầu có xu hướng giảm lại.

Tóm lại, nền kinh tế Việt Nam hội tụ đủ những điều kiện để tiếp tục tăng trưởng ổn định trong vài năm tới.

tăng trưởng kinh tế

(Nguồn: VDSC)