Home / PHÂN TÍCH & NHẬN ĐỊNH / PHÂN TÍCH THỊ TRƯỜNG, VĨ MÔ, NGÀNH / Ngành cá tra Việt Nam: trong giai đoạn đầu tái cấu trúc

Ngành cá tra Việt Nam: trong giai đoạn đầu tái cấu trúc

Nghị định 36/2014/ NĐ-CP đã đặt nền móng tái cấu trúc ngành cá tra Việt Nam. Các giải pháp, tuy còn cần nhiều thời gian để có thể tạo ra thay đổi trên quy mô toàn ngành, đã thể hiện một giai đoạn phát triển mới chú trọng chất lượng.

Mặc dù ngành xuất khẩu cá tra đã có lịch sử lâu đời và Việt Nam ở thế độc quyền trên thị trường toàn cầu, tăng trưởng xuất khẩu nhiều năm qua vẫn bấp bênh.

ngành cá tra

Nguyên nhân của tình trạng trên, ngoài các trở ngại khách quan đến từ các rào cản thuế quan và kỹ thuật của các thị trường, còn do ngành thiếu một chiến lược phát triển tổng thể,dẫn đến nhiều hạn chế:

- Chất lượng giống suy giảm gây ra tình trạng thiếu cá giống: Trong nhiều năm, giống cá tra do các hộ nông dân tự sản xuất, nhiều hộ lai cận huyết, ép cá bố mẹ đẻ non và đẻ nhiều lần trong năm dẫn đến hiện tượng thoái hóa giống. Con giống yếu thường chết nhiều khi nuôi thương phẩm, kéo theo hao phí thức ăn và thuốc thú y tăng. Tình trạng thiếu hụt đã đẩy giá cá giống tăng vọt trong năm 2017-2018. Tồn dư kháng sinh vượt mức cho phép là rủi ro thường trực khiến nhiều lô hàng bị các nhà nhập khẩu trả về. Chất lượng thành phẩm cũng bị ảnh hưởng nếu cá nguyên liệu dị hình, màu thịt xấu và tỷ lệ thu hồi phi-lê giảm.

ngành cá tra

- Khủng hoảng thừa/ thiếu nguyên liệu: Khi giá xuất khẩu tốt thường xảy ra tình trạng nông dân đổ xô mở rộng diện tích nuôi cá tra giống, cá tra thương phẩm, chủ yếu thông qua chuyển đổi đất trồng lúa thành ao cá tra. Hậu quả là tình trạng dư cung đột biến vào một thời điểm khiến giá bán cá nguyên liệu rớt mạnh, do các hộ nuôi mới không có hợp đồng cung cấp cho nhà máy chế biến để đảm bảo đầu ra. Nhiều người chịu lỗ nặng và ngưng thả nuôi mới trong các vụ sau, kéo theo tình trạng thiếu hụt cá nguyên liệu cho chế biến. Nếu điều kiện xuất khẩu vào các thị trường vẫn thuận lợi , giá xuất khẩu sẽ tăng và vòng lẩn quẩn lặp lại.

ngành cá tra

Thiếu vắng sản phẩm chế biến sâu: Hầu hết (99%) cá tra xuất khẩu là hàng đông lạnh chế biến thô (phi-lê, cắt khúc, cắt miếng) (mã HS 03) không khác nhau đáng kể về hàm lượng giá trị. Các sản phẩm cá tra giá trị gia tăng (hàng tẩm ướp, hàng nấu liền, ăn liền) (mã HS 16) và các sản phẩm giá trị gia tăng chế biến từ phụ phẩm của quá trình phi-lê cá như surimi, collagen và gelatin lại rất ít do hạn chế về vốn đầu tư cho công nghệ sản xuất. Trong khi các sản phẩm này đang rất được ưa chuộng tại các thị trường cao cấp như Mỹ và châu Âu và trong ngành dược mỹ phẩm, các doanh nghiệp lại đang để ngỏ một phân khúc sản phẩm có tiềm năng mang lại lợi nhuận rất cao.

ngành cá tra

- Cạnh tranh không lành mạnh giữa các công ty chế biến: Vì xuất khẩu sản phẩm thô là chủ yếu nên tình hình cạnh tranh về giá bán rất khốc liệt. Thủ thuật được nhiều doanh nghiệp sử dụng là tăng tỷ lệ mạ băng để giảm tỷ lệ thịt cá trên một kg thành phẩm nhằm giảm giá bán. Tỷ lệ mạ băng tối đa đảm bảo chất lượng sản phẩm là 5%, theo khuyến nghị của Ủy ban Thực phẩm quốc tế (CODEX), nhưng nhiều doanh nghiệp có tỷ lệ mạ băng lên đến 35-40%. Hậu quả là uy tín của toàn ngành bị suy giảm và một vài thị trường cáo buộc Việt Nam bán phá giá, điển hình là thị trường Mỹ đã áp thuế chống bán phá giá.

Từ năm 2014, Chính phủ đã ban hành định hướng phát triển rõ ràng và chặt chẽ cho ngành cá tra. Nghị định 36/2014/NĐ-CP và Nghị định 55/2017/NĐ-CP về nuôi, chế biến và xuất khẩu sản phẩm cá tra đưa ra một số tiêu chuẩn về điều kiện nuôi và chất lượng cá tra ở mức cao nhằm định hướng cho hoạt động nuôi trồng, chế biến và xuất khẩu.

Nhiều doanh nghiệp chế biến (điển hình là Vĩnh Hoàn, Nam Việt, IDI và Cửu Long An Giang) các năm gần đây đã đầu tư mạnh xây dựng chuỗi giá trị khép kín, nâng cao khả năng tự chủ con giống, thức ăn và nguyên liệu, hướng tới ổn định các yếu tố đầu vào cho sản xuất.

  • Về con giống, đề án sản xuất giống cá tra cấp quốc gia triển khai từ năm 2018 với sự tham gia của các nhà khoa học sẽ cung cấp nguồn giống chất lượng cao cho nhu cầu nuôi trồng của ngành. Đến năm 2020, đề án sẽ đáp ứng 50% và đến năm 2025 sẽ đáp ứng 70% nhu cầu giống.

ngành cá tra

  • Về nguồn nguyên liệu, tuy không có thống kê chính thức nhưng qua trao đổi với nhiều doanh nghiệp, hiện nay có đến 70% diện tích nuôi cá tra của nông dân được các doanh nghiệp ký hợp đồng thu mua nguyên liệu ở mức giá hợp lý đảm bảo có lãi cho người nuôi, tránh bị thương lái ép giá, từ đó giải quyết được tình trạng “được mùa mất giá”.
  • Quy chuẩn kỹ thuật quốc gia sản phẩm cá tra phi lê đông lạnh (ban hành cuối năm 2017) đặt ra một chuẩn mực chung về hàm lượng mạ băng, hạn chế cạnh tranh không lành mạnh giữa các doanh nghiệp.
  • Nhiều doanh nghiệp sau một thời gian tích lũy vốn và công nghệ đã đầu tư nghiên cứu và sản xuất các mặt hàng GTGT. Điển hình là Vĩnh Hoàn với các sản phẩm cá tra ăn liền, nấu liền và collagen-gelatin được ưa chuộng ở Nhật, Mỹ và châu Âu; Nam Việt với surimi và collagen sắp được tung ra thị trường; IDI đang nghiên cứu cá tra xông khói, cá tra đóng hộp và xúc xích cá tra.

(Nguồn: VDSC)