Thị trường vốn Việt Nam

“Bức tranh vĩ mô khả quan trong khi vẫn còn nhiều thách thức ở mặt vi mô” đây là điều chúng tôi thường nghe các nhà đầu tư nói về Việt Nam.  Thực tế, thị trường vốn của Việt Nam nhỏ, sơ khai và vẫn khó tiếp cận đối với các nhà đầu tư nước ngoài.

Chúng tôi tin rằng trong thập kỷ tới, chúng ta sẽ chứng kiến sự tăng cường đáng kể của hệ thống tài chính tại Việt Nam. Hiện tại ngoài trừ Trung Quốc, Việt Nam là quốc gia duy nhất trong khu vực có tín dụng ngân hàng vượt quá quy mô thị trường trái phiếu và cổ phiếu. Tín dụng từ khối tài chính đã tăng từ mức 21% GDP trong năm 1997 lên 142% sau 20 năm. Đây là tỷ lệ tăng trưởng không bền vững đối với Việt Nam.

Nhưng mọi thứ có thể được cải thiện. Năm ngoái, tăng trưởng tín dụng đạt 13,9% y-o-y trong khi GDP tăng trưởng 7,1% y-o-y. Nói cách khác, chỉ cần dưới 2% tăng trưởng tín dụng cho 1% tăng trưởng GDP, giảm từ 2,9x trong năm 2016 và 4,6x trong năm 2010.

Thị trường vốn có thể cung cấp giải pháp trong việc đa dạng hóa nguồn vốn cho doanh nghiệp. Do đó, mô hình tăng trưởng tín dụng ngân hàng nhanh chóng cho khu vực doanh nghiệp sẽ chuyển đổi tập trung nhiều hơn vào cho vay hộ gia đình và thu nhập từ phí khi các doanh nghiệp tham gia vào thị trường trái phiếu và cổ phiếu. Chúng tôi đã nhận thấy những dấu hiệu sớm của điều này với tăng trường đáng kể trong cho vay tiêu dùng và thế chấp trong những năm gần đây.

Tổng vốn hóa toàn thị trường (HSX, HNX và UpCom) đã tăng 230% trong 5 năm và chúng tôi trong 5 năm tới, con số này có thể tăng gấp đôi (hiện tại 190 tỷ USD) và cổ phiếu Việt Nam sẽ được thêm vào rổ Chỉ số thị trường mới nổi MSCI. Trong khi đó, chúng ta thậm chí chưa chạm tới một góc của thị trường trái phiếu (> 90% trái phiếu phát hành trên thị trường là trái phiếu chính phủ).

Năm 2017, bốn hợp đồng tương lai chỉ số VN30 đầu tiên được giới thiệu. Sau sự do dự ban đầu, những sản phẩm này nhanh chóng trở nên phổ biến trong giới đầu cơ vì những lí do dễ hiểu. Hiện tại giá trị giao dịch hàng ngày trong khoảng 250-400 triệu USD, cao hơn mức 200-250 triệu USD của thị trường cổ phiếu. Trong khi đó, tại sàn HOSE hy vọng sẽ giới thiệu chứng quyền có đảm bảo cho một số cổ phiếu blue-chip trong năm nay.

Đối với ngành ngân hàng, có một số lo ngại vì chuẩn Basel II chưa được đáp ứng bởi tất cả các thành viên trong hệ thống, tỷ lệ nợ xấu duy trì ở mức tương đối cao và bên cho vay vẫn phụ thuộc quá nhiều vào lợi nhuận từ lãi vay. Việc đầu tiên có thể được giải quyết thông qua tái cấu trúc. Thực tế nếu giới hạn sở hữu nhà nước ngoài được nới lỏng, việc tái cấu trúc sẽ khá dễ dàng. Tuy nhiên quản lý rủi ro vẫn đang trong giai đoạn trứng nước và cần được xem xét nghiêm túc hơn. Tại thời điểm mà hầu hết các khoản nợ xấu từ chu kỳ tín dụng trước đã được xử lý, chúng tôi nhận thấy tiềm năng nợ xấu mới từ tài chính tiêu dùng. Sự phát triển tích cực là từng bước tiến tới doanh thu dựa trên phí nhiều hơn. Lời khuyên là cần cẩn trọng nhưng chúng tôi cho rằng triển vọng dài hạn của ngành ngân hàng là tích cực khi các cổ phiếu ngân hàng vẫn là một đại diện tuyệt vời cho nền kinh tế.


Thiếu thanh khoản và độ rộng có nghĩa là các cổ phiếu tốt không thu hút được dòng tiền và vẫn bị định giá thấp khi dòng vốn ngoại chảy vào, trong khi những cổ phiếu có thanh khoản cao có thể trở nên đắt hơn. Không có cổ phiếu nào giao dịch hơn 10 triệu USD/ ngày; hơn 40 cổ phiếu có giá trị giao dịch 1 triệu USD hoặc hơn mỗi ngày và gần 100 cổ phiếu có giá trị giao dịch từ 100.000 USD đến 1 triệu USD. Hiện tại, 600 công ty đang giao dịch thấp hơn 100.000 USD mỗi ngày.

Tăng trưởng kinh tế Việt Nam chủ yếu được thúc đẩy bởi đầu tư trực tiếp nước ngoài (FDI) và tín dụng nhưng chỉ hai yếu tố này không thể đóng vai trò lâu dài. Giới lãnh đạo Việt Nam nhận thức rõ về điều đó và dường như đang cố gắng phát triển thị trường vốn.

(Nguồn: VDSC)