Home / PHÂN TÍCH & NHẬN ĐỊNH / PHÂN TÍCH DOANH NGHIỆP / GMD: Lợi nhuận Q1 tăng mạnh nhờ công ty bán tài sản

GMD: Lợi nhuận Q1 tăng mạnh nhờ công ty bán tài sản

Nhận định KQKD – Lợi nhuận Q1 của GMD tăng mạnh nhờ công ty bán tài sản. Triển vọng tích cực ở mức vừa phải. Tiếp tục duy trì đánh giá Khả quan – GMD (Khả quan) đã công bố KQKD chưa soát xét Q1/2018 với doanh thu thuần đạt 689 tỷ đồng (giảm 20% so với cùng kỳ), LNTT đạt 1.507 tỷ đồng (tăng 1.177% so với cùng kỳ) và LNST đạt 1.279 tỷ đồng (tăng 1.079% so với cùng kỳ). Lợi nhuận tăng mạnh nhờ công ty hạch toán một số thương vụ bán tài sản với tổng lãi là 1.356 tỷ đồng. Theo đó doanh thu bằng 23% dự báo của HSC cho cả năm còn LNTT bằng 70% dự báo. Cho năm 2018, GMD đặt kế hoạch doanh thu là 2.405 tỷ đồng (giảm 60%) và LNTT là 2.130 tỷ đồng (tăng trưởng 327%).

Kết luận nhanh 

Duy trì đánh giá Khả quan. Chúng tôi ước tính giá trị hợp lý của cổ phiếu GMD là 40.000đ; tương đương EV/EBITDA dự phóng năm 2018 là 10,5 lần. Chúng tôi lựa chọn 27 doanh nghiệp cùng ngành trong khu vực với vốn hóa thị trường bình quân sát với vốn hóa thị trường của GMD là 372 triệu USD. EV/EBITDA của nhóm các doanh nghiệp này là 10,5 lần và chúng tôi cho rằng định giá của GMD xứng đáng bằng với mức bình quân này.

GMD là doanh nghiệp cảng biển tư nhân lớn nhất tại Việt Nam với thị phần cả nước là 10%. Với hệ thống cảng biển trên cả nước có thể tiếp nhận xử lý 1,46 triệu TEU hàng hóa/năm; tương đương 10% thị phần. GMD còn có 1 công ty liên kết với một cảng tiếp nhận xử lý hàng hóa bằng đường hàng không tại Sân bay Tân Sơn Nhất tại TP HCM. GMD vẫn nắm 49% cổ phần tại mảng logistic (công ty đã bán cổ phần kiểm soát cho CJ logistics). Hiện công ty cũng đang vận hành mảng vận tải biển nhưng có tỷ suất lợi nhuận thấp. Triển vọng tích cực trong 5 năm tới nhờ công ty tập trung vào mảng cảng biển có tỷ suất lợi nhuận cao. Chúng tôi kỳ vọng GMD sẽ giữ vị thế áp đảo trong lĩnh vực này với thị phần theo dự báo của HSC sẽ tăng lên 26% vào năm 2022. Nhờ công suất cảng biển tăng lên 4,4 triệu TEU. Trong khi đó mảng logistic tăng trưởng ổn định nhờ sáp nhập với CJ Logistics. Hiện cổ phiếu đã kín room nhưng thỉnh thoảng room vẫn có thể hở. Và chúng tôi coi việc mua được cổ phiếu là cơ hội trước câu chuyện dài hạn ở cổ phiếu này.

Lợi nhuận Q1/2018 tăng mạnh cho dù doanh thu thuần giảm do không còn hợp nhất mảng logistic – Doanh thu của GMD xuất phát từ 2 mảng cốt lõi là:

• Mảng cảng biển: doanh thu đạt 499 tỷ đồng (tăng 32% so với cùng kỳ). Mặc dù công ty không công bố chi tiết, nhưng chúng tôi suy đoán nguyên nhân chủ yếu là do lượng hàng hóa qua cảng Phước Long tăng sau khi công suất tăng thêm 30% từ Q3/2017.

• Mảng logistic và vận tải: doanh thu đạt 190 tỷ đồng (giảm 61% so với cùng kỳ). Vào tháng 2/2018, GMD đã bán 51% cổ phần Công ty TNHH Gemadept Holding Logistics (hoạt động trong lĩnh vực logistic) cho CJ Logistics và giảm tỷ lệ sở hữu xuống còn 49%. Theo đó doanh thu từ Công ty TNHH Gemadept Holding Logistics đã không còn được hợp nhất vào GMD.

Tỷ suất lợi nhuận gộp tăng – lợi nhuận gộp đạt 205 tỷ đồng (tăng 5% so với cùng kỳ) trong khi tỷ suất lợi nhuận gộp tăng từ 23% trong Q1/2017 lên 30% trong Q1/2018. Do tỷ trọng đóng góp của mảng logistic có tỷ suất lợi nhuận thấp hơn mảng cảng biển giảm.

• Lợi nhuận gộp mảng cảng biển là 195 tỷ đồng (tăng 41% so với cùng kỳ) còn tỷ suất lợi nhuận gộp tăng từ 36,5% trong Q1/2017 lên 39% trong Q1/2018. Nhờ công suất hoạt động tăng với doanh thu tăng nhanh hơn chi phí cố định chẳng hạn như chi phí khấu hao và chi phí nhân công.

• Lợi nhuận gộp mảng vận tải và logistic là 11 tỷ đồng (giảm 81% so với cùng kỳ) còn tỷ suất lợi nhuận gộp giảm từ 11,4% trong Q1/2017 xuống 5,6% trong Q1/2018. Nguyên nhân chính là do lợi nhuận gộp mảng logistic không còn được hợp nhất. Chúng tôi ước tính tỷ suất lợi nhuận gộp mảng logistic khoảng 15% còn mảng vận tải khoảng 6%.

Lợi nhuận tài chính thuần tăng do hạch toán lãi từ bán tài sản – lợi nhuận tài chính thuần trong Q1/2018 đạt 1.375 tỷ đồng trong khi trong Q1/2017 lỗ thuần 21 tỷ đồng. Trong Q1/2018, GMD đã hạch toán 1.356 tỷ đồng lãi từ bán tài sản.

• GMD đã bán 49% cổ phần Công ty TNHH Vận tải biển Gemadept Holding (GMD trước đó nắm 100% cổ phần)

• GMD đã bán 51% cổ phần Công ty TNHH Gemadept Holding logistics (GMD trước đó nắm 100% cổ phần) Ngoài ra, trong Q1/2018 GMD còn hoàn nhập 23 tỷ đồng dự phòng đầu tư tài chính (trong Q1/2017 là 1 tỷ đồng).

Đóng góp từ công ty liên doanh liên kết giảm – công ty liên doanh liên kết đóng góp 23 tỷ đồng (giảm 5% so với cùng kỳ) do GMD đã giảm tỷ lệ sở hữu tại SCS (Upcom) từ 34,9% xuống còn 32,89% vào Q3/2017, là thời điểm SCS phát hành cổ phiếu mới. Chi phí bán hàng & quản lý tăng 18% so với cùng kỳ. Chi phí bán hàng & quản lý là 100 tỷ đồng (tăng 18% so với cùng kỳ). Trong khi đó tỷ lệ chi phí bán hàng & quản lý/doanh thu tăng từ 9,8% trong Q1/2017 lên 14,5% trong Q1/2018. Có lẽ điều này là do phát sinh chi phí không thường xuyên từ việc bán tài sản Tóm lại, LNTT đạt 1.507 tỷ đồng (tăng 1.175% so với cùng kỳ). Nếu không tính lợi nhuận không thường xuyên từ bán tài sản và hoàn nhập dự phòng, thì LNTT từ hoạt động kinh doanh chính là 129 tỷ đồng (tăng 9% so với cùng kỳ). Cho năm 2018, HSC dự báo doanh thu thuần tăng trưởng 24% và LNST tăng trưởng 197% - cho năm 2018, HSC điều chỉnh tăng dự báo LNST của GMD do có khoản lãi 1.456 tỷ đồng từ thoái vốn đã được hạch toán vào năm 2018 thay vì Q4/2017. HSC dự báo doanh thu thuần đạt 2.980 tỷ đồng (giảm 24%) và LNST đạt 1.725 tỷ đồng (tăng trưởng 197%). Giả định chính của chúng tôi là:

• Doanh thu của mảng cảng biển tăng 24% lên 2.174 tỷ đồng nhờ tác động của nhiều nhân tố. Chúng tôi giả định lượng hàng hóa qua cảng đạt 1,825 triệu TEU (tăng 22%) và 1,896 triệu tấn (tăng 2%). Cảng Phước Long PIP đã được mở rộng và hoạt động trở lại từ Q3/2017. Trong khi đó cảng Nam Đình Vũ đi vào hoạt động từ tháng 2/2018. Theo đó công suất xử lý hàng container sẽ tăng thêm 750.000 TEU; tương đương tăng 65%.

- Hàng hóa qua cảng tăng 10% đạt 719.400 TEU tại cảng Nam Hải Đình Vũ và giảm 20% đạt 134.400 TEU tại cảng Nam Hải. Do các tàu di chuyển từ cảng thượng nguồn về cảng hạ nguồn ở Hải Phòng.

- Hàng hóa xử lý tại cảng Nam Đình Vũ đạt 240.000 TEU (tăng 100%) với giả định cảng này hoạt động với 40% công suất thiết kế trong năm đầu tiên.

- Phí dịch vụ cảng biển tại cảng Nam Hải và Nam Hải Đình Vũ sẽ giảm lần lượt 3% và 2% do cạnh tranh tại khu vực Hải Phòng tăng do có cảng mới đi vào hoạt động, chẳng hạn như cảng Nam Đình Vũ.

- Hàng hóa xử lý tại Phước Long ICD tăng 15% đạt 731.400 TEU nhờ công suất của cảng này sẽ tăng thêm 30% từ Q3/2017.

- Hàng hóa vào cảng Dung Quất tăng nhẹ 2% lên 1,896 triệu tấn nhờ sản lượng hàng dăm gỗ tăng dần.

• Chúng tôi giả định doanh thu mảng vận tải đạt 806 tỷ đồng, tăng 10%. Chúng tôi giả định lượng hàng hóa chuyên chở sẽ tăng 5% lên 264.354 TEU và giá bán bình quân tăng 5% do giá nhiên liệu tăng.

• Tỷ suất lợi nhuận gộp tăng từ 26,1% lên 33% và lợi nhuận gộp dự báo đạt 984 tỷ đồng (giảm 4%). Lý do chính là tỷ trọng đóng góp của mảng cảng biển tăng.

• Lợi nhuận tài chính thuần tăng lên 1.290 tỷ đồng (năm 2017 là 42 tỷ đồng) nhờ hạch toán 1.456 tỷ đồng lãi từ thoái vốn như dưới đây:

- Bán 49% cổ phần Công ty TNHH Vận tải biển Gemadept Holding và 51% cổ phần Công ty TNHH Gemadept Holding logistics, lãi 1.356 tỷ đồng.

- Bán 51% cổ phần Cảng Hoa Sen Gemadept và lãi 100 tỷ đồng.

• Đóng góp từ công ty liên doanh liên kết tăng – chúng tôi dự báo công ty liên doanh liên kết sẽ đóng góp 200 tỷ đồng vào LNST của GMD (tăng 83%). Trong đó:

- Chúng tôi giả định SCSC và các công ty liên kết sẽ đóng góp 133 tỷ đồng (tăng trưởng 22%) vào LNST của GMD. Chúng tôi dự báo doanh thu của SCSC sẽ tăng trưởng 24% và LNST tăng trưởng 26%.

- Công ty TNHH Gemadept Holding logistics sẽ đóng góp 67 tỷ đồng vào LNST của GMD. Chúng tôi dự báo doanh thu mảng logistic sẽ tăng trưởng 9% dạt 1.487 tỷ đồng nhờ công suất trung tâm phân phối tăng 15%.

• Tỷ lệ chi phí bán hàng & quản lý/doanh thu giữ nguyên ở 11,2%

. • Lỗ khác là 16 tỷ đồng (giảm 81%) do GMD sẽ không hạch toán đáng kẻ lỗ ở hoạt động khác như trong năm 2017. Theo đó, chúng tôi dự báo EBITDA đạt 1.290 tỷ đồng (tăng trưởng 20%), EV/ EBITDA dự phóng năm 2018 là 8,04 lần. Chúng tôi dự báo LNTT năm 2018 đạt 2.123 tỷ đồng (tăng trưởng 226%). Nếu không tính lãi từ thoái vốn và thu nhập khác, thì LNTT từ hoạt động kinh doanh chính là 683 tỷ đồng (tăng trưởng 8%). Chúng tôi dự báo LNST đạt 1.725 tỷ đồng (tăng trưởng 197%). HSC dự báo EPS năm 2018 là 5.336đ; tương đương P/E dự phóng là 5,51 lần. Trong 5 năm tới, HSC dự báo doanh thu tăng trưởng với tốc độ gộp bình quân năm là 21% và lợi nhuận từ hoạt động kinh doanh chính là 16% - dựa trên những giả định chính sau:

• Doanh thu và lợi nhuận gộp mảng cảng biển tăng trưởng với tốc độ gộp bình quân năm lần lượt là 24% và 25%. Nhờ:

- Sản lượng hàng qua cảng tăng trưởng với tốc độ gộp bình quân năm là 25% nhờ cảng Nam Đình Vũ giai đoạn 2 và cảng Gemalink đi vào hoạt động từ giữa năm 2020.

- Phí dịch vụ bình quân giảm 2%/năm tại khu vực phía Bắc do tình trạng dư cung tại khu vực Hải Phòng. Phí dịch vụ tại khu vực phía nam giữ nguyên.

- Tỷ suất lợi nhuận gộp tăng từ 39,1% trong năm 2018 lên 39,4% trong năm 2022.

• Doanh thu và lợi nhuận gộp mảng logistic tăng trưởng với tốc độ gộp bình quân năm là 24%. Nhờ: - Công suất trung tâm phân phối tăng trưởng với tốc độ gộp bình quân năm là 15% và lượng hàng chuyển chở tăng trưởng với tốc độ gộp bình quân năm là 5%.

- Phí dịch vụ tăng 5%/năm do giá nhiêu liệu tăng.

- Tỷ suất lợi nhuận gộp duy trì ở 15,5%.

• Lợi nhuận gộp tăng trưởng với tốc độ gộp bình quân năm là 23% còn tỷ suất lợi nhuận gộp sẽ tăng từ 33,9% trong năm 2018 lên 36% trong năm 2022 nhờ tỷ trọng đóng góp mảng cảng biển với tỷ suất lợi nhuận cao tăng.

• Đóng góp từ công ty liên doanh liên kết tăng trưởng với tốc độ gộp bình quân năm là 13% nhờ lợi nhuận từ Công ty TNHH Gemadept Holding logistics (GMD nắm 49% cổ phần) tăng trưởng với tốc độ gộp bình quân năm là 13% và từ SCS (GMD nắm 32,56% cổ phần) tăng trưởng với tốc độ gộp bình quân năm là 20%.

• Chúng tôi dự báo mảng cao su và BĐS đóng góp không đáng kể.

Lãi không thường xuyên từ thoái vốn đã đóng góp đáng kể vào lợi nhuận năm 2018 – trong năm nay, GMD sẽ hạch toán đáng kể lợi nhuận từ thoái vốn. HSC dự báo doanh thu thuần tăng trưởng 24% và LNST tăng trưởng 197% do giả định GMD sẽ hạch toán 1.456 tỷ đồng từ nhiều thương vụ thoái vốn.

GMD là doanh nghiệp lớn nhất ngành logistic – thành lập vào năm 1990 với sự phát triển mạnh mẽ, nhanh chóng và bền vững, Gemadept hiện đã trở thành tập đoàn đa ngành lĩnh vực cảng biển & logistic tư nhân lớn nhất tại Việt Nam. Gemadept có 4 mảng kinh doanh gồm

(1) cảng biển (2) logistic (3) trồng cao su và (4) BĐS. Trong đó mảng cảng biển và logistic là hoạt động kinh doanh chính của GMD còn trồng cao su và BĐS là các khoản đầu tư chiến lược của công ty.

GMD là doanh nghiệp cảng biển tư nhân lớn nhất với tổng công suất là 2,1 triệu TEU/năm –cảng biển là mảng quan trọng nhất của GMD, đóng góp 45% doanh thu và 70% lợi nhuận gộp. Trong năm 2017, hệ thống cảng biển của GMD đã tiếp nhận xử lý 1,46 triệu TEU hàng hóa (tăng 11%); theo đó công ty giữ 10% thị phần cả nước. Trong đó:

• Cảng khu vực miền Bắc (gồm Nam Hải Đình Vũ, Nam Đình Vũ) tiếp nhận xử lý 0,822 triệu TEU (tăng 5%), chiếm 19% thị phần khu vực phía Bắc.

• Cảng khu vực miền Ban (Phước Long) tiếp nhận xử lý 0,636 triệu TEU (tăng 19%), chiếm 7% thị phần khu vực phía Nam. Hiện GMD có 5 cảng biển là:

• Nam Hải Đình Vũ (GMD nắm 85% cổ phần) nằm trên diện tích 15ha tại khu vực hạ nguồn Sông Cấm, Hải Phòng – có tổng công suất là 500.000 TEU/năm. Trong năm 2017, cảng này đã tiếp nhận xử lý 654.000 TEU hàng hóa (tăng 25%), tương đương công suất hoạt động là 131% công suất thiết kế. Trong năm 2018, lượng hàng hóa sẽ còn tăng 8% lên 704.000 TEU . Đây là cảng container và chủ yếu tiếp nhận hàng hóa tự liệu sản xuất & nguyên liệu nhập khẩu cho các doanh nghiệp FDI (ngoài lĩnh vực CNTT) chẳng hạn như máy móc, hàng dệt, giày dép và đồ nhựa.

• Nam Hải (GMD nắm 100% cổ phần) nằm trên diện tích 17ha tại khu vực thượng nguồn Sông Cấm, Hải Phòng – có tổng công suất là 150.000 TEU/năm. Trong năm 2017, cảng này đã tiếp nhận xử lý 168.000 TEU hàng hóa (giảm 34%), tương đương công suất hoạt động là 112% công suất thiết kế. Trong năm 2018, lượng hàng hóa sẽ còn giảm tiếp 20% xuống 134.000 TEU do tàu chuyển từ các cảng thượng nguồn sang cảng hạ nguồn vì trọng tải tàu tăng lên.

Đây là cảng container và chủ yếu tiếp nhận hàng hóa tư liệu sản xuất & nguyên liệu nhập khẩu cho các doanh nghiệp FDI (ngoài lĩnh vực CNTT) chẳng hạn như máy móc, hàng dệt, giày dép và đồ nhựa.

• Nam Đình Vũ (GMD nắm 60% cổ phần) nằm trên diện tích 65ha tại khu vực hạ nguồn Sông Cấm, Hải Phòng – có tổng công suất là 600.000 TEU/năm. Cảng Nam Đình Vũ bắt đầu đi vào hoạt độn từ tháng 2/2018. Chúng tôi ước tính trong năm đầu hoạt động, công suất hoạt động của cảng sẽ đạt 50%. Giống như các cảng container khác tại Hải Phòng, cảng Nam Đình Vũ chủ yếu tiếp nhận hàng hóa tư liệu sản xuất & nguyên liệu nhập khẩu cho các doanh nghiệp FDI (ngoài lĩnh vực CNTT) chẳng hạn như máy móc, hàng dệt, giày dép và đồ nhựa.

• Phước Long PIP (GMD nắm 100% cổ phần) gồm Phước Long ICD 3 nằm trên diện tích 12ha tại xa lộ Hà Nội, Quận Thủ Đức, TP HCM và cảng Bình Dương nằm trên diện tích 7,3 ha tại Bình Thắng, tỉnh Bình Dương – có tổng công suất là 650.000 TEU/năm. Trong năm 2017, cảng này đã tiếp nhận xử lý 636.000 TEU hàng hóa (tăng 19%), tương đương công suất hoạt động là 97% công suất thiết kế. Cảng đã mở rộng, nâng công suất thêm 30% từ 500.000 TEU lên 650.000 TEU từ Q3/2017. Chúng tôi dự báo sản lượng hàng qua cảng sẽ tăng tiếp 10% lên 700.000 TEU trong năm 2018. Cảng chủ yếu tiếp nhận hàng hóa tư liệu sản xuất & nguyên liệu nhập khẩu cho các doanh nghiệp FDI (ngoài lĩnh vực CNTT) chẳng hạn như máy móc, hàng dệt, giày dép và đồ nhựa.

• Nam Hải ICD (GMD nắm 100% cổ phần) nằm trên diện tích 6ha tại Hải Phòng, cách cảng Nam Hải Đình Vũ 1,5 km. Cảng có công suất khoảng 200.000 TEU/năm và đi vào hoạt động từ tháng 5/2017. Dự kiến cảng sẽ hoạt động 100% công suất trong năm 2018. Nhiệm vụ chính của cảng nam Hải ICD là hỗ trợ cảng Nam Hải Đình Vũ và Nam Đình Vũ.

• Dung Quất (GMD nắm 82% cổ phần) tại Bình Sơn, Quảng Ngãi – có tổng công suất là 2,5 triệu tấn/năm. Trong năm 2017, cảng này đã tiếp nhận xử lý 1,81 triệu tấn hàng hóa (tăng 7%), tương đương công suất hoạt động là 72% công suất thiết kế. Trong năm 2018, lượng hàng hóa sẽ còn tăng 5%. Đây là cảng hàng dời, chủ yếu là dăm gỗ.

GMD là doanh nghiệp duy nhất cung cấp dịch toàn bộ các dịch vụ logistic – logistic là một lĩnh vực kinh doanh cốt lõi khác của GMD, đóng góp 55% doanh thu và 30% lợi nhuận gộp. GMD có 6 dịch vụ logistic chính gồm:

• Trung tâm phân phối – GMD có 17 trung tâm phân phối và nhà kho với công suất 6,2 triệu tấn với diện tích 300.000 m2 tại nhiều tỉnh thành ở 3 khu vực chính là miền Nam (Bình Dương, Hậu Giang, Cần Thơ, TP HCM), miền Bắc (Hải Phòng, Hải Dương, Bắc Ninh, Hưng Yên, Hà Nội) và miền Trung (Đà Nẵng, Quảng Ngãi, Buôn Ma Thuột, Nha Trang, Quy Nhơn). Mảng này thuộc công ty TNHH Gemadept Logistics Holding (GMD nắm 49% cổ phần còn CJ Logistics nắm 51%).

• Vận tải biển – công ty có 36 thuyền viễn biển và thuyền sông cùng với 10.000 TEU container. Công ty vận chuyển trên nhiều tuyến quốc tế giữa Việt Nam và các nước châu Á chẳng hạn như Hongkong, Singapore , Malaysia, Philippines, Indonesia, Thái Lan và Campuchia. GMD là doanh nghiệp lớn nhất trong vận tải đường sông tại Việt Nam. Trong năm 2017, đội tàu của GMD đã chuyên chở 251.766 TEU hàng hóa (tăng 7%) và đóng góp 32 triệu USD (tăng 3%), tương đương 19% doanh thu. Mảng này thuộc Công ty TNHH Gemadept Shipping Holding (GMD nắm 51% còn CJ Logistics của Hàn Quốc nắm 49%).

• Đại lý giao nhận vận chuyển - GMD cung cấp dịch vụ đại lý cho các công ty vận chuyển hành khách, conventional vessels, vận chuyển LPG tại tất cả các cảng của Việt Nam. Công ty còn cung cấp dịch vụ vận chuyển bằng hàng không, bằng đường biển và dịch vụ đa phương thức. Trong năm 2017, công ty cũng cấp dịch vụ cho 609 chuyến đi (giảm 16%). Mảng này thuộc công ty TNHH Gemadept Shipping Holding (GMD nắm 51% còn CJ Logistics của Hàn Quốc nắm 49%).

• Hàng dự án – vận chuyển thiết bị lớn, trọng lượng và giá trị cao. GMD cung cấp phương thức vận tải đa phương tiện cho hàng containers, hàng hóa chung và hàng OOG. GMD đứng thứ 2 trong lĩnh vực hàng dự án với công suất tiếp nhận xử lý là 1.000 tấn. Công ty chuyên về vận chuyển hàng nặng tại Việt Nam, Lào, Campuchia. Mảng này thuộc công ty TNHH Gemadept Logistics Holding (GMD nắm 49% cổ phần còn CJ Logistics nắm 51%).

• Vận tải bằng xe tải – GMD có 250 chiếc xe tải và 56 chiếc xe tải van. Công ty hoạt động tại các tuyến đường dài nội địa kết nối 3 khu vực Bắc Trung Nam và các tuyết quốc tế giữa TP HCM và Campuchia. Mảng này thuộc công ty TNHH Gemadept Shipping Holding (GMD nắm 51% còn CJ Logistics của Hàn Quốc nắm 49%).

• Cảng hàng hóa hàng không – GMD nắm 32,56% cổ phần SCS (Up - com). Công ty này vận hành một cảng hàng hóa hàng không trên diện tích 14 ha tại sân bay Tân Sơn Nhất với công suất 200.000 tấn/năm. Trong năm 2017, công ty xử lý 186.140 tấn hàng hóa (tăng 15%), tương đương thị phần là 14%. Liên doanh này đóng góp 19% LNST của GMD trong năm 2017.

Mảng cao su chiếm 16% tài sản nhưng đóng góp lợi nhuận không đáng kể - GMD đã thành lập 3 công ty gồm Công ty TNHH Pacific Pearl, Công ty TNHH Pacific Lotus và Công ty TNHH Pacific Pride (GMD sở hữu 100%) với tổng vốn điều lệ là 1.469 tỷ đồng chịu trách nhiệm vận hành 3 dự án cao su tại Campuchia. Đến cuối Q1/2018, GMD đã đầu tư 1.570 tỷ đồng cho mảng cao xu, tương đương 16% tổng tài sản của công ty. GMD dự kiến sẽ ghi nhận lợi nhuận nhỏ từ mảng này từ cuối năm nay. Từ năm 2011 đến cuối năm 2017, GMD đã trồng khoảng 10.000 ha cao su (trong tổng diện tích đất cho canh tác là 28.138 ha).

Các dự án BĐS vẫn trong giai đoạn hoàn thiện thủ tục – GMD có 2 dự án BDDS trong danh mục;

• Saigon Gem – là dự án phức hợp gồm một khách sạn 4-5 sao, trung tâm thương mại và văn phòng cho thuê tại TPHCM. Tòa nhà cao 49 tầng và có diện tích đất là 4.300 m2 trên đường Lê Lợi và Nam Kỳ Khởi Nghĩa, quận 1 TPHCM. Vốn đầu tư dự kiến là khoảng 140 tỷ đồng và GMD sẽ góp 55% cổ phần trong khi đó Saigon Tourist góp 45% cổ phần.

• Một tòa nhà phức hợp gồm khách sạn 4-5 sao và trung tâm thương mại với diện tích đất là 6.745 m2 tại Sibunhuong; quận Chanthabouly, Viêng Chăn, Lào. Tổng vốn đầu tư ước tính là khoảng 35 triệu USD và GMD góp 75% cổ phần. Phần còn lại 25% cổ phần là từ một NĐT Lào. Cả hai dự án này vẫn trong giai đoạn giấy tờ với nhiều thủ tục pháp lý cần hoàn thiện. Chiến lược tập trung vào mảng cảng biển đồng thời thoái vốn khỏi một số mảng kinh doanh khác cho tỷ suất lợi nhuận thấp – Theo kế hoạch thoái vốn công bố tại ĐHCĐTN năm 2016, chúng tôi lưu ý công ty sẽ;

• Giữ hơn 51% cổ phần của mảng cảng biển – GMD có 5 cảng container và 1 cảng hàng rời tại cả ba miền (Bắc, Trung và Nam) với tổng công suất hiện tại là 2,1 triệu TEU và 2,5 triệu tấn.

• Thoái toàn bộ vốn ở mảng cao su – Chúng tôi lưu ý rằng GMD đã thành lập 3 công ty gồm Công ty TNHH Pacific Pearl, Công ty TNHH Pacific Lotus và Công ty TNHH Pacific Pride (GMD sở hữu 100%) với vốn điều lệ lần lượt là 587 tỷ đồng, 790 tỷ đồng và 92 tỷ đồng chịu trách nhiệm vận hành 3 dự án cao su tại Campuchia. Đến cuối Q1/2017, GMD đã đầu tư 1.570 tỷ đồng cho mảng cao xu, tương đương 16% tổng tài sản của công ty. GMD dự kiến sẽ ghi nhận lợi nhuận nhỏ từ mảng này vào cuối năm nay. Từ năm 2011 đến cuối năm 2017, GMD đã trồng khoảng 10.000 ha cao su (trong tổng diện tích đất cho canh tác là 28.138 ha).

• Giảm tỷ lệ sở hữu ở mảng logistic xuống dưới 49% - GMD sở hữu 17 trung tâm phân phối (DC) trên diện tích 30 ha với công suất 6,3 triệu tấn gồm 36 tàu, 250 xe tải và 56 xe van. Vào tháng 2/2018, GMD đã bán 49% tại Công ty Gemadept Shipping Holding (GMD sở hữu 100%) và 51% cổ phần tại Công ty Gemadept Holding Logisitc (GMD sở hữu 100%) cho CJ Logistic và ghi nhận khoảng lãi 1.356 tỷ đồng.

• Đối với mảng BĐS, công ty cũng tìm kiếm người mua lại cổ phần – GMD hiện sở hữu 2 dự án BĐS gồm dự án Saigon Germ – tổ hợp khách sạn-trung tâm thương mại và văn phòng cho thuê tại TPHCM và một tổ hợp khách sạn- trung tâm thương mại tại Viêng Chăn, Lào. Cả hai dự án đang trong giai đoạn hoàn thiện các thủ tục pháp lý. Mấu chốt của chiến lược này là thoái vốn khỏi những mảng kinh doanh đang lỗ hoặc có tỷ suất lợi suất thấp để tập trung trở lại mảng cảng biển hiện đang hoạt động tốt nhất và cho tỷ suất lợi nhuận gộp cao nhất là khoảng 40%.

Tăng gấp đôi công suất đến năm 2022 – Chiến lược của GMD là sẽ tăng gấp đôi công suất cảng biển ở nhiều khu vực trên cả nước. Cùng với việc xây dựng Nam Đình Vũ giai đoạn 2 và xây dựng Gemalink, GMD dự kiến sẽ tăng công suất cảng biển thêm 119% lên 4,4 triệu Teus vào năm 2022. Trong đó;

• Công suất các cảng phía bắc sẽ tăng thêm 64% lên 2,25% triệu TEUs.

• Công suất các cảng phía nam sẽ tăng thêm 231% lên 2,15 triệu TEUs. Một khi cảng Nam Hải Đình Vũ hoạt động toàn bộ với công suất 1,4 triệu teus, GMD sẽ trở thành doanh nghiệp vận hành cảng biển lớn nhất tại Hải Phòng với tổng công suất là 2,25 tiệu teus/năm. Chiếm 26% thị phần tại Hải Phòng. Hơn nữa, khi cảng Gemalink đi vào hoạt động vào giữa năm 2020, GMD sẽ trở thành doanh nghiệp tư nhân vận hành cảng biển lớn nhất tại Việt Nam với tổng công suất là 4,4 triệu TEUs/năm và ước tính nắm giữ 26% thị phần. Vị thế dẫn đầu giúp công ty thuận lợi trong đàm phán các điều khoản với khách hàng. Chi tiết về kế hoạch mở rộng mảng cảng biển như sau; Nhờ cảng Nam Đình Vũ, GMD trở thành công ty tư nhân vận hành cảng biển lớn nhất tại Hải Phòng – GMD đã đầu tư 360 tỷ đồng để thành lập CTCP Cảng Nam Đình Vũ vào tháng 9/2016. Công ty này có vốn điều lệ là 600 tỷ đồng.

GMD đóng góp 60% vốn điều lệ trong khi đó chủ đất – CTCP Đầu tư Sao Đỏ góp phần còn lại. Một khi hoàn thành, cảng Nam Đình Vũ sẽ là cảng lớn với công suất 1,4 triệu Teus/năm.

Cảng này có 7 bến tàu với 5 bến tàu container, 1 bến tàu hàng rời và 1 bến tàu chung trên diện tích 65 ha tại KCN Nam Đình Vũ. Cảng này có thể nhận tàu tải trọng lớn lên tới 40.000 DWT. Vốn đầu tư ước tính là khoảng 6.000 tỷ đồng. GMD sẽ xây dựng cảng này theo nhiều giai đoạn, kéo dài từ năm 2016 đến năm 2022.

• Nam Đình Vũ Giai đoạn 1 – đi vào hoạt động từ tháng 2/2018. Đây là cảng có quy mô trung bình với diện tích 20 ha với vốn đầu tư là 1.700 tỷ đồng. Cảng này gồm 2 bến tàu container với tổng chiều dài là 440 ma và công suất leentowis 600.000 Teus/năm. Sau đi vào hoạt động, Giai đoan 1 giúp tăng 46% tổng công suất của GMD lên 2,1 triệu Teus, trong đó 1,45 triệu Teus là ở khu vực Hải Phòng.

• Nam Đình Vũ Giai đoạn 2 – sẽ đi vào hoạt động từ Q3/2019. Công suất tương đương Giai đoạn 1. Giai đoạn này có diện tích 20 ha và vốn đầu tư ước tính là 1.700 tỷ đồng, gồm 2 bến tàu container với tổng chiều dài là 440 m, có công suất 600.000 Teus. Thời gian xây dựng dự kiến là 12 tháng và hoàn thành vào Q3/2019.

• Nam Đình Vũ Giai đoạn 3 – đi vào hoạt động từ Q1/2022. Giai đoạn này gồm 1 bến tàu container (công suất 200.000 Teus), 1 bến tàu hàng rời và một bến tàu chung với tổng chiều dài là 660m trên diện tích 25ha. Vốn đầu tư ước tính là khoảng 2.600 tỷ đồng. Thời gian xây dựng dự kiến kéo dài 18 tháng và sẽ đi vào hoạt động từ Q1/2022. Cảng Nam Đình Vũ là một phần trong tổng dự án quy hoạch cảng gồm khu vực miễn thuế, cảng biển và KCN (Khu vực 1). Dự án tổng thể có tổng diện tích là 1.329 ha, chia thành khu vực cảng biển và logistic với diện tích 171 ha, khu vực cảng các sản phẩm xăng dầu có diện tích 31 ha, khu vực miễn thuế có diện tích 210 ha và KCN có diện tích 971 ha. Dĩ nhiên một phần cảng Nam Đình Vũ sẽ được sử dụng để phục vụ khách hàng tại KCN và khu vực miễn thuế Nam Đình Vũ. Khi Giai đoạn 1 đi vào hoạt động, GMD hiện là công ty tư nhân điều hành cảng biển lớn nhất tại Hải Phòng với 19% thị phần và đóng góp 19% tổng công suất cảng biển ở khu vực Hải Phòng (và 10% thị phần toàn quốc).

Đến cuối năm 2022, khi giai đoạn 3 cảng Nam Đình Vũ đi vào hoạt động, tổng công suất của GMD tại hải Phòng sẽ tăng 64% lên 2,25 triệu Teus, tương đương 28% tổng công suất cảng biển tại Hải Phòng. Nhu cầu tăng công suất là mới là rất rõ ràng vì các cảng hiện tại của GMD (Nam Hải và Nam Hải Đình Vũ) tại Hải Phòng đang hoạt động với 110%- 120% công suất thiết kế.

GMD ước tính 120% công suất thiết kế là mức công suất tối đa của các cảng này. Tuy nhiên, do tình trạng dư cung tại khu vực Hải Phòng, nên giá dịch vụ giảm và tỷ suất lợi nhuận của GMD cũng giảm. Với giả định rằng cảng mới sẽ sử dụng 40% công suất trong năm đầu tiên hoạt động, 90% công suất trong năm thứ hai và 100% trong năm thứ 3, chúng tôi dự báo trong năm 2018, Nam Đình Vũ sẽ đóng góp 12% doanh thu và 9% lợi nhuận gộp. Và sau đó tăng lên 23% doanh thu và 26% lợi nhuận gộp sau 5 năm hoạt động.

Cảng Gemalink sẽ là động lực tăng trưởng chính cho GMD trong dài hạn – Trong dài hạn, chúng tôi cho rằng cảng Gemalink sẽ là động lực tăng trưởng chính sau 3-4 năm tới. Đây là dự án khổng lồ tại Cái Mép – Vũng Tàu. Và HSC dự báo cảng Gemalink sẽ đóng góp 19% doanh thu và 18% lợi nhuận gộp trong năm 2020.

Và đến năm 2022, đóng góp doanh thu và lợi nhuận gộp của cảng này sẽ lần lượt tăng lên 30% và 31%. Dự án này đã thai nghén hơn 10 năm qua và hiện đã sẵn sàng triển khai.

Công ty Cổ phần Cảng Cái Mép Gemadept - Terminal Link (Gemalink) là liên doanh giữa GMD (75%) và CMA – CGM, khách hàng của GMD (25%). Công ty có vốn điều lệ là 1.929,6 tỷ đồng (tương đương 120 triệu USD theo tỷ giá USD/VND là 16.080 tại thời điểm góp vốn).

Đây sẽ là cảng lớn nhất tại cụm cảng biển sâu Cái Mép – Thị Vải (cách TPHCM vài giờ đồng hồ). Với công suất lên tới 200.000 Teus. GMD dự kiến sẽ xây dựng cảng này trong hai giai đoạn;

Giai đoạn 1 – Cảng có một bến tàu dài 800m để tiếp nhận tàu lớn và một bến đậu dài 260m với sân container rộng 33 ha. Công suất của cảng trong giai đoạn 1 là 1,4 triệu TEU/năm. Vốn đầu tư dự kiến cho giai đoạn 1 là 345 triệu USD. Khởi công xây dựng từ Q3/2018 và dự kiến sẽ hoạt động từ 6 tháng cuối năm 2020.

Giai đoạn 2: GMD sẽ tiếp tục mở rộng thêm 2 bến tàu và mở rộng khu vực sân sau. Sau khi giai đoạn 2 hoàn thành, cảng sẽ có bến tàu chính dài 1.150m và bến đậu bên cạnh dài 400m trên tổng diện tích 72 ha. Cảng có thẻ tiếp nhận các tàu lớn có trọng tải lên tới 200.000 DWT với công suất thiết kế cho toàn bộ giai đoạn này là 2.4 triệu TEU/năm. Tổng vốn đầu tư ước tính cho Giai đoạn 2 chưa được công bố. CMA-CGM sẽ cung cấp tới 0,9 triệu TEUs cho Gemalink trong năm đầu tiên cảng này đi vào hoạt động - Gemalink có cam kết vận chuyển hàng hóa từ CMA-CGM, bên còn lại của liên doanh này. CMA-CGM Group là công ty vận tải container và công ty container lớn thứ 3 trên thế giới với sự hiện diện ở hơn 160 quốc gia với hơn 655 đại lý. Với đội tàu mới và đa dạng gồm 445 tàu, CMA CGM Group cung cấp dịch vụ tại 400 trong 521 cảng thương mại trên thế giới. Trong năm 2012, tập đoàn này đưa tàu cập cảng CM-TV cho tuyến đường Á-Âu và đây là đầu tiên Việt Nam trực tiếp kết nối với tuyến đường thương mại này. Trong năm 2017, tổng hàng hóa vận chuyển của CMA-CGM qua các cảng phía Nam Việt nam là khoảng 0,7 triệu Teus, trong đó hàng hóa qua CM-TV là khoảng 0,5 triệu Teus.

Hàng hóa vận chuyển của CMA- CGM tại các cảng Thái Làn và Philipin là khoảng 0,3 triệu – 0,5 triệu Teus. CMA- CGM ước tính trong năm đầu tiên hoạt động của cảng Gemalink, tập đoàn này sẽ chuyển khoảng 0,9 triệu Teus từ các cảng hiện tại sang Gemalink nếu chi phí ở mức hợp lý. Do đó, Gema - link có thể lấp đầy 60% công suất trong năm đầu tiên hoạt động. Tuy nhiên, Gemalink yêu cầu mở rộng các cảng vệ tinh và trung tâm logistic tại TPHCM và khu vực Tây Nam. Một hạn chế của cảng CM-TV là cơ sở hạ tầng chưa được phát triển đồng bộ. Kết nối đường bộ và đường sông còn hạn chế. Chủ hàng hóa tốn thời gian và chi phí vận chuyển khi vận chuyển hàng tại CM-TV. Để khắc phục vấn đề này, Gemalink sẽ sử dụng các bến đậu để chuyển hàng hóa từ CM-TV sang các cảng vệ tinh và trung tâm logistic tại TPHCM. Do đó, công ty cần tăng công suất các cảng vệ tinh và trung tâm logistic để hỗ trợ hoạt động của Gemalink.

Việc xây dựng Gemalink Terminal phải tạm ngừng từ tháng 1/2012 khi tổng tiến độ chung của dự án cho giai đoạn 1 đã hoàn thành hơn 39%. Quá trình chuẩn bị đã hoàn thành cho hầu hết các giai đoạn. Tuy nhiên, quá trình xây dựng vẫn chưa tiếp tục.

Lưu ý về thay đổi trong hạch toán kế toán đối với dự án này – Trong năm 2008, GMD định giá lại quyền sử dụng đất tại cảng Gemalink từ 67,2 tỷ đồng lên 635,2 tỷ đồng (tương đương 39,5 triệu USD) trước khi đóng góp cho công ty liên doanh. Theo quy định ở thời điểm đó, công ty đã hoạch toán 283,9 tỷ đồng (tương đương với tỷ lệ sở hữu của các bên khác trong liên doanh) là lợi nhuận khác trong khi đó phần còn lại là 283,9 tỷ đồng (tương đương với tỷ lệ sở hữu của GMD trong liên doanh) được ghi nhận là doanh thu chưa thực hiện trên Bảng cân đối. Khoản này hiện đã được phân bổ sang Báo cáo kết quả kinh doanh trong khoảng thời gian còn lại trong vòng đời tài sản (48 năm và 10 tháng). Phần doanh thu chưa thực hiện chưa được hạch toán trên Báo cáo KQKD năm 2017 là 228,5 tỷ đồng. Tuy nhiên, theo quy định hiện hành, lãi/lỗ từ đánh giá lại giá trị tài sản sẽ được hạch toán toàn bộ trên Báo cáo KQKD. Chúng tôi hiện chưa rõ về cách hạch toán truy hồi khoản doanh thu chưa thực hiện này. Trên thực tế, nếu áp dụng, khoản lợi nhuận trên Báo cáo KQKD là 228,5 tỷ đồng. Mặc dù GMD sở hữu 75% cổ phần của liên doanh này này, theo điều lệ, để được thông qua, tất cả nghi quyết cần được ít nhất 76% phiếu đồng thuận. Do đó, GMD có thể vẫn sẽ ghi nhận liên doanh này là công ty liên kết. GMD dự kiến sẽ chuyển liên doanh này thành công ty con khi cảng Gemalink đi vào hoạt động.

Mục tiêu tăng gấp đôi lợi nhuận của mảng logistic trong 3 năm tới sau M&A – Trong tháng 2/2018, GMD đã bán 49% cổ phần tại Công ty TNHH Ge - madept Holding Sea Shipping (GMG sở hữu 100%) và 51% cổ phần tại Công ty TNHH Gemadept Holding Logistics (GMD sở hữu 100%) cho CJ Logistic với giá khoảng 2.200 tỷ đồng và ghi nhận 1.356 tỷ đồng lợi nhuận. CJ Logistics là công ty logistic lớn 17 trên thế giới và công ty logistic đầu tiên tại Hàn Quốc. Thành lập vào năm 1930, CJ Logistics có 106 cơ sở hoạt động trên 22 quốc gia trên thế giới. Tập đoàn này thực hiện các hợp đồng logistic, vận chuyển bưu kiện, thực hiện dịch vụ chuyển tiếp & chuyển phát nhanh quốc tế, stevedoring & giao thông vận tải và hậu cần dự án. Công ty cho biết sẽ tiến hành M&A để trở thành top 5 công ty logistic trến thế giới. Bắt đầu hoạt động tại Việt Nam kể từ năm 1997, CJ không chỉ hoạt động logistic mà còn ở mảng hàng tiêu dùng, thức ăn chăn nuôi, dược phẩm, công nghệ sinh học, BĐS, truyền thông và giải trí. GMD sẽ được hưởng lợi ích rất lớn từ M&A với CJ. GMD có thể tiếp cận mạng lưới toàn cầu của CJ, đa đạng & lồng ghép cách dịch vụ. Với 88 năm kinh nghiệp, CJ có thể hỗ trợ GMD về quản lý, công nghệ và quản lý chất lượng. Sau M&A, CJ và GMD đặt mục tiêu tăng gấp đôi doanh thu và lợi nhuận từ mảng logistic. Cụ thể,

• Mở rộng công suất phân phối hàng hóa thêm 67% lên 500.000 m2. Các trung tâm phân phối và nhà kho sẽ được phát triển song song với sự mở rộng của các cảng để hỗ trợ hoạt động của các cảng.

• Thâm nhập vào thương mại điện tử - Trong tháng 4/2018, GMD đã ký hoạt động hợp tác 2 năm với Lazada, một công ty thương mại điện tử với 36% thị phần.

DC Sóng Thần sẽ được sử dụng là kho hàng bổ sung cho Lazada và để vận hành trung tâm này GMD sẽ sử dụng phần mềm quản lý tập trung từ Alibaa – công ty thương mại điện tử lớn nhất thế giới nắm 83% cổ phần của Lazada. Thương mại điện tử được dự báo sẽ tăng trưởng với tốc độ trung bình gộp 19%/năm trong 3 năm tới.

• Gia tăng đội tàu – Gần đây, GMD đã mua thêm 2 tàu mới là Green Pacific (vào tháng 11/2017) và Pride Pacific (vào tháng 3/2018) với công suất 15.000 DWT để vận chuyển hàng hóa ở các tuyến nội địa và Châu Á. Do đó, đội tàu sẽ tăng 6% lên 36 tàu. Nhà ga hàng hóa được mở rộng thêm 75% - SCS được ước tính vượt công suất hiện tại từ năm 2018. Do đó, công ty dự định mở rộng công suất cảng hàng hóa 75% lên 350.000 tấn mỗi năm bằng cách bổ sung thêm thiết bị mới vào năm 2019. Hơn nữa, công ty dự định chuyển hàng hóa hàng không từ Campuchia đến nhà ga hàng hóa này vì hiện tại không có nhà ga hàng hóa hàng không nào ở Campuchia. Trong vòng 3 năm tới, công ty dự kiến sản lượng hàng hóa hàng không quốc tế sẽ tăng trưởng với tốc độ CAGR 15-20% trong khi sản lượng hàng hóa trong nước sẽ tăng trưởng với tốc độ CAGR là 10-12%. Hơn nữa, SCS dự định vận hành các nhà ga hàng hóa hàng không tại sân bay Cát Bi, sân bay Đà Nẵng, sân bay Cam Ranh và sân bay Long Thành nhưng chưa có thông tin chi tiết được công bố. Công ty cũng có kế hoạch cung cấp suất ăn hàng không tại sân bay Tân Sơn Nhất.

Việc thoái vốn khỏi mảng cao su sẽ mất nhiều thời gian hơn - GMD đã tìm kiếm người mua khá lâu. Tuy nhiên, cho đến nay, chúng tôi không thấy bất kỳ bên mua nào thực sự quan tâm. Số phận của việc mua bán này liên quan chặt chẽ đến giá cao su toàn cầu. Trong khi đó kể từ năm 2017, GMD đã tạm ngưng trồng cây cao su mới và hiện chỉ trả tiền để duy trì diện tích đã trồng (phần lớn là chi phí cho phân bón). Trong giai đoạn 2011-2015, giá cao su giảm mạnh 71% xuống 1,57 USD / kg. Gần đây, nhờ sự phục hồi của giá dầu và nhu cầu cải thiện, giá cao su đã được tăng lên 1,61 USD / kg trong năm 2016 (tăng 3%) và sau đó tăng 24% lên 2 USD / kg trong năm 2017.

Ngân hàng Thế giới dự báo giá cao su có thể phục hồi lên 2,13 USD / kg vào năm 2020 - vẫn thấp hơn giá cao su vào năm 2011. Hơn nữa, theo các điều khoản của hợp đồng thuê, đất trồng cao su của GMD không thể chuyển sang trồng các loại cây khác. Vì vậy, chúng tôi dự đoán tài sản cũng sẽ được xử lý nhưng có thể mất một khoảng thời gian.

Công ty đặt kế hoạch tăng trưởng với tốc độ CAGR là 22% trong 3 năm tới - GMD đặt kế hoạch doanh thu 3.597 tỷ đồng (tăng trưởng 37%) và kế hoạch LNTT 1.067 tỷ đồng trong năm 2020, theo đó doanh thu tăng trưởng với tốc độ CAGR là 22% và LNTT tăng trưởng với tốc độ CAGR là 23%. Cơ cấu doanh thu như sau:

• Doanh thu từ mảng cảng biển tăng trưởng với tốc độ CAGR là 24%, đạt 3.347 tỷ đồng (tăng trưởng 40%) trong năm 2020 và LNTT tăng trưởng với tốc độ CAGR là 21%, đạt 712 tỷ đồng (tăng trưởng 32%).

• Doanh thu mảng logistics tăng trưởng với tốc độ CAGR 6% đạt 250 tỷ đồng (tăng trưởng 6%) trong năm 2020 và LNTT tăng trưởng với tốc độ CAGR 26% đạt 355 tỷ đồng (tăng trưởng 27%).

(Nguồn: HSC)

Show Buttons
Hide Buttons